Trang Chủ > Công trình thủy lợi > Quy trình và phương pháp thi công khoan phụt chống thấm

Quy trình và phương pháp thi công khoan phụt chống thấm

Đối với công trình thuỷ lợi, việc tiến hành xử lý chống thấm và gia cố tăng ổn định là công việc rất quan trọng, một trong những giải pháp hiệu quả là khoan phụt. Trong nhiều trường hợp, nhờ kết quả của khoan phụt mà không cần phải thay đổi kết cấu thiết kế đê đập. Trong bài viết này sẽ trình bày Quy trình và phương pháp thi công khoan phụt chống thấm.

Quy định chung về thi công khoan phụt chống thấm

Khi sử dụng các máy bơm có cơ cấu dẫn động điều chỉnh được, việc phụt vữa phải được thực hiện theo phương pháp nén ép (không tuần hoàn).

Ngược lại, khi sử dụng các máy bơm có cơ cấu dẫn động không điều chỉnh được, việc phụt vữa phải được tiến hành theo phương pháp tuần hoàn.

Trong quá trình phụt, khi không tạo được áp lực phụt hoặc chỉ tạo được áp lực phụt thấp thì phải phụt theo phương pháp không tuần hoàn và phải chuyển sang phương pháp tuần hoàn khi tiêu hao vữa của hố khoan trong quá trình phụt giảm xuống tới 15 l/phút/m2.

Lưu lượng và áp lực phụt:

Việc phụt vữa phải được tiến hành ngay sau khi hoàn thành thí nghiệm ép nước.

Trong suốt thời gian phụt vữa vào một đoạn, phải giữ cho lưu lượng và áp lực phụt ở mức lớn nhất nhưng không vượt quá giới hạn cho phép được quy định trong hồ sơ.

Trong quá trình phụt, căn cứ vào số liệu thực tế về sự thay đổi lưu lượng và áp lực khi phụt vào các đoạn, TVTK có thể điều chỉnh lại trị số giới hạn cho phép về lưu lượng và áp lực phụt cho phù hợp.

Nếu phát hiện thấy đá bị đứt đoạn thủy lực hoặc thấy vữa rò lên mặt đất thì phải giảm lưu lượng và áp lực phụt xuống các trị số không gây nên các hiện tượng trên.

Trường hợp đất đá nền bị biến dạng, có thể tiến hành thêm một số công việc sau đây để xác định chính xác các trị số của lưu lượng và áp lực phụt vào một số đoạn lựa chọn:

→ Thí nghiệm ép nước nhiều cấp;

→ Đặt các mốc để quan trắc lún và biến dạng trên mặt nền.

Khi tiến hành phụt, phải phụt liên tục cho tới khi đạt được độ no vữa hoặc cho đến khi dừng phụt.

Nếu hồ sơ thiết kế không đưa ra các yêu cầu đặc biệt thì độ chối thiết kế được coi là đạt ở áp lực mà lưu lượng vữa giảm tới 5 L/phút/m2.

Khi có yêu cầu của thiết kế cao hơn về độ chặt của đá đã được phụt thì lưu lượng vữa ở độ chối không được lấy thấp hơn lưu lượng nhỏ nhất cho phép.

Thành phần dung dịch phụt:

Thành phần dung dịch phụt ban đầu N/X lấy từ 8÷10.

Không được thay đổi thành phần dung dịch phụt trong trường hợp khi khoan phụt liên tục, lưu lượng phụt giảm trong lúc áp lực phụt không đổi hoặc khi áp lực phụt tăng mà lưu lượng không đổi.

Sử dụng dung dịch phụt đặc hơn khi lưu lượng lớn nhất đã đạt được mà áp lực phụt lại không tăng hoặc khi áp lực phụt đã đạt được độ chối mà lưu lượng lại không giảm, theo trình tự:

Tăng dần theo thang biểu thành phần dung dịch phụt,cứ 15 phút thì tăng thêm một bậc nếu lưu lượng phụt tiêu hao nhỏ hơn 60 l/phút/m2;

Thêm 1 bậc hoặc 2 bậc theo thang biểu sau khi phụt vào các đoạn cần thiết từ 1 000 lít đến 1 500 lít dung dịch phụt nếu lưu lượng lớn hơn 60 l/phút/m2.

Ngược lại, nếu do dung dịch phụt đặc mà lưu lượng tiêu hao giảm xuống tới 20 l/phút/m2 và có xu hướng tiếp tục giảm nữa thì phải chế tạo dung dịch phụt loãng dần cho tới khi tỷ lệ N/X đạt từ 4÷10 và tiếp tục phụt dung dịch vữa với tỷ lệ này cho tới khi đạt được độ chối (no vữa).

Thi công khoan phụt vữa chống thấm thân đập

Công tác thi công phụt vữa được xem là bình thường, nếu đảm bảo các yếu tố:

  • Việc phụt vữa phải được tiến hành liên tục;
  • Khi phụt lưu lượng dung dịch tiêu hao giảm xuống dần còn áp lực phụt hoặc tương ứng với áp lực độ chối hoặc tăng dần tới áp lực độ chối;
  • Toàn bộ dung dịch tiêu hao thâm nhập hết vào khu vực cần phụt.

Các trường hợp không bình thường, cần xử lý trong quá trình phụt:

  • Dung dịch vữa xi măng có nồng độ đặc nhất tiêu hao trong thời gian dài mà áp lực phụt không tăng;
  • Dung dịch vữa phụt trào lên trên mặt đá lộ thiên hoặc miệng các hố khoan lân cận sau khi phụt xong hoặc khi ngừng phụt;
  • Đá bị đứt đoạn thủy lực;
  • Ngừng phụt do thiết bị phụt hỏng.

Trường hợp khi phụt không xảy ra tình trạng đá bị đứt đoạn thủy lực hoặc vữa không có nồng độ đặc nhất N/X = 0,60 mà lưu lượng tiêu hao không giảm thì phải tiếp tục phụt cho đến khi đã phụt được một lượng dung dịch chứa 2.000 kg vật liệu khô cho 1 m chiều dài hố khoan mới ngừng phụt.

Thời gian nghỉ phụt được xác định tùy thuộc vào thời gian ninh kết của dung dịch vữa phụt trong điều kiện nhiệt độ của môi trường phụt.

Nếu không có các nghiên cứu riêng thì thời gian nghỉ phụt khi sử dụng xi măng Pooclăng như sau:

  • Khi nhiệt độ môi trường phụt cao hơn +10°C: không nhỏ hơn 24 giờ;
  • Khi nhiệt độ môi trường từ +2°C đến +10°C: không nhỏ hơn từ 48÷72 giờ.

Trước khi phụt lại vào các đoạn đã phụt chưa đạt đến độ chối cần tiến hành khoan xoáy nạo sạch lượng vữa đã đông cứng và thí nghiệm ép nước.

Sau khi nghỉ phụt, nếu lượng mất nước đơn vị trong đoạn phụt tiếp theo dưới 0,2 l/phút/m² thì phải tiếp tục phụt bằng dung dịch vữa xi măng thông thường.

Nếu lượng mất nước đơn vị có giá trị lớn hơn 0,2 l/phút/m² thì phải tiếp tục phụt bằng dung dịch vữa xi măng có thêm phụ gia.

Khi dung dịch phụt trào lên miệng hố khoan vòng qua nút ép, cần ngừng phụt để đặt lại nút ép ở vị trí cao hơn từ 0,5 m đến 2,0 m rồi tiếp tục phụt lại.

Nếu dung dịch vữa trào qua miệng các hố khoan lân cận thì phải giảm từ 30%÷50% áp lực phụt, đồng thời bịt các hố khoan có dung dịch vữa trào lên bằng cách đặt nút, sau đó tiếp tục phụt vữa với áp lực như cũ.

Nếu dung dịch vữa xuất hiện trên mặt nền đá thì phải giảm từ 30%÷50% áp lực phụt và bít các lỗ rò từ bên ngoài.

Khi không thể bịt được các lỗ rò này thì phải ngừng phụt từ 2÷4 giờ rồi mới tiến hành phụt lại.

Nếu đã áp dụng các biện pháp xử lý nói trên mà vữa phụt vẫn tiếp tục chảy thì phải sử dụng phụ gia đông cứng nhanh hoặc phụ gia tạo bọt.

Trường hợp thấy nham thạch bị đứt gãy thủy lực nhưng không kèm theo hiện tượng vữa xuất hiện trên mặt đá lộ thiên thì giảm áp lực phụt xuống 2 lần và tiếp tục phụt cho tới áp lực độ chối có giá trị thấp hơn 2 lần so với áp lực phụt thiết kế.

Khi phải ngừng phụt do thiết bị hư hỏng thì phải rửa toàn bộ thiết bị phụt bằng nước hoặc khí nén.

Cho phép tiếp tục phụt lại nếu thời gian xử lý thiết bị ít hơn 15 phút tính từ khi ngừng phụt.

Nếu sau khi phụt xong thấy dung dịch vữa trào lên mặt đất qua miệng hố thì phải đóng van lại và chỉ được tháo nút sau 24 giờ (sau khi vữa đã đông kết).

Nếu trong nền đá có chứa nước áp lực với cột nước đo áp cao hơn miệng hố khoan từ 3 m trở lên thì nút phải đặt van 1 chiều và sau khi phụt xong phải giữ nút trong lỗ khoan trong thời gian ít nhất là 24 giờ.

Lấp hố khoan sau khi thi công khoan phụt chống thấm

Sau khi đã phụt xong tất cả các đoạn và toàn bộ hố khoan, phải lấp chặt hố khoan bằng vữa.

Hố khoan được lấp từ dưới lên bằng cách đổ vữa xi măng vào hố khoan qua một ống thả từ trên miệng xuống đáy và được nâng dần lên theo mức độ đầy vữa trong hố khoan.

Có thể lấp hố khoan bằng phương pháp bơm vữa xi măng đặc vào hố khoan qua nút có đặt van một chiều.

Duy trì áp lực bơm trong vòng 5 phút sau khi hố khoan đầy vữa. Nút được giữ trong hố khoan cho tới khi vữa đông kết.

Biện pháp xử lý thường gặp trong thiết kế và thi công

⇒ Các hố khoan có độ sâu từ 7m trở lên phải thiết kế phân đoạn để phụt vữa.

Chiều dài mỗi đoạn nên lấy bằng 5m.

Đối với các hố khoan có chiều sâu không phải là bội số của 5m, phải bố trí sao cho chiều dài đoạn ngắn hơn 5m ở miệng hố và đoạn dài hơn 5m ở đáy hố.

⇒ Khi phụt theo phương pháp phân đoạn từ dưới lên, nếu các hố khoan đợt 2 và đợt tiếp theo có trên 10% số đoạn có hiện tượng dung dịch phụt xì qua thành nút lên phía trên thì phải phụt theo phương pháp phân đoạn từ trên xuống.

⇒ Khi phụt phân đoạn từ trên xuống, cho phép tiến hành khoan đoạn tiếp theo ngay sau khi phụt xong đoạn trước trong các trường hợp sau:

Các hố khoan kề bên của đợt trước đã được phụt tới độ sâu thấp hơn đoạn sắp khoan trên 10 m;

Các đoạn bên trên đã được phụt vữa đạt độ no vữa theo thiết kế;

Nước dưới đất không có áp và mực nước dưới đất không cao hơn miệng hố khoan;

Trường hợp tồn tại nước ngầm có áp thì chỉ cho phép khoan xoáy nạo sạch phần vữa đã bị đông cứng trong hố khoan và khoan đoạn tiếp theo sau khi có đủ thời gian cần thiết để vữa đông cứng trong vùng đã phụt;

Khi phụt vữa theo phương pháp phân đoạn từ dưới lên, các hố khoan của đợt thi công tiếp theo chỉ được tiến hành khoan sau khi các hố khoan tại vị trí lân cận của đợt trước đã phụt xong và được lấp vĩnh viễn;

Trong vùng đất đá có độ rỗng dễ tạo nên các độ no vữa giả tạo thì sau khi đã khoan xoáy nạo sạch vữa đoạn cuối, tùy theo yêu cầu của thiết kế có thể cho phụt vữa vào toàn bộ hố khoan mà không cần phân đoạn.

Giới thiệu về Minh Khôi

Chuyên trang chia sẻ các kiến thức liên quan đến Hoạt động xây dựng 👉 Đấu thầu 👍 Autocad từ cơ bản đến nâng cao.

Có thể bạn quan tâm

don-gia-nhan-cong-tren-dia-ban-tinh-lang-son

Quyết định số 2204/QĐ-UBND ngày 02/12/2015 của UBND tỉnh Lạng Sơn

Quyết định số 2204/QĐ-UBND Về việc công bố đơn giá nhân công trong quản lý chi phí đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *