Trang Chủ > Công trình giao thông > Quy trình khảo sát đường ô tô – Bước lập báo cáo nghiên cứu khả thi

Quy trình khảo sát đường ô tô – Bước lập báo cáo nghiên cứu khả thi

Chia sẻ bài viết

Quy trình khảo sát đường ô tô theo tiêu chuẩn ngành 22 TCN 263 – 2000 | Khảo sát để lập báo cáo nghiên cứu khả thi bao gồm các công việc Khảo sát tuyến; Khảo sát thủy văn; Khảo sát địa chất công trình; Điều tra kinh tế và Khảo sát môi trường.

CHƯƠNG 7. KHẢO SÁT TUYẾN

7.1 Nhiệm vụ của khảo sát đường ô tô để lập báo cáo nghiên cứu khả thi là thu thập các số liệu cần thiết cho việc lập các báo cáo trên với mục đích như đã nêu ở Điều 1.4.2.

Điều 1.4.2

1.4.1 Khảo sát để lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (BCNCTKT) là thu thập những tài liệu cần thiết để sơ bộ đánh giá về sự cần thiết phải đầu tư công trình, các thuận lợi và khó khăn, sơ bộ xác định vị trí, quy mô công trình và ước toán tổng mức đầu tư, chọn hình thức đầu tư cũng như sơ bộ đánh giá hiệu quả đầu tư về mặt kinh tế, xã hội của dự án.

Quá trình khảo sát phải nghiên cứu các điều kiện tự nhiên của vùng khảo sát (địa hình, địa mạo, địa chất, thủy văn, nguôn vật liệu xây dựng…).

Ngoài ra cần chú ý đến những tài liệu khảo sát đã tiến hành những năm trước nếu có.

Kết quả khảo sát phải đề xuất được hướng tuyến và những giải pháp thiết kế cho phương án tốt nhất (gọi là phương án chọn) và đề xuất giải pháp thi công, đồng thời phải thỏa thuận với chính quyền địa phương và với các cơ quan liên quan về hướng tuyến và các giải pháp thiết kế chủ yếu.

7.2 Những công việc trong bước nghiên cứu khả thi gồm:

– Chuẩn bị trong phòng.

– Thị sát, đo đạc ngoài hiện trường.

A. CHUẨN BỊ TRONG PHÒNG

7.3 Những tài liệu cần sưu tầm:

7.3.1 Tài liệu điều tra kinh tế và tài liệu khảo sát trước đây đã thực hiện (nếu có) liên quan đến thiết kế.

7.3.2 Các tài liệu về quy hoạch tuyến.

7.3.3 Các điểm khống chế bắt buộc tuyến phải qua hoặc tránh (đô thị, công trình đặc biệt…).

7.3.4 Tài liệu khí tượng thủy văn, thổ nhưỡng, địa chất và thủy văn địa chất.

7.3.5 Các bản đồ vùng đặt tuyến (tỷ lệ từ nhỏ đến lớn).

7.4 Nghiên cứu trên bản đồ tỷ lệ nhỏ (1:25000 – 1:50000).

7.4.1 Vạch ra hướng tuyến tổng quát của dự án để sau này dễ nghiên cứu chi tiết trên bản đồ tỷ lệ lớn.

7.4.2 Chú ý các điểm khống chế có nêu trong các tài liệu đã khảo sát hoặc do các cơ quan yêu cầu.

7.4.3 Bổ sung vào hướng tuyến chung các đường nhánh dẫn đến các khu dân cư lớn, nhà ga, bến cảng, sân bay.

7.4.4 Sơ bộ chọn vị trí vượt sông lớn, nơi giao cắt với đường sắt, với đường ôtô là đường trục (quốc lộ).

7.5 Nghiên cứu trên bản đồ tỷ lệ lớn.

Căn cứ vào hướng tuyến chung đã vạch trên bản đồ tỷ lệ nhỏ để chuyển sang nghiên cứu trên bản đồ tỷ lệ lớn với mức độ chi tiết hơn, có kết hợp đầy đủ với địa hình địa vật.

Việc xác định trên bản đồ tỷ lệ lớn bao gồm một số nội dung sau:

7.5.1 Chọn tương đối chính xác vị trí cầu lớn để sau này xác định trên thực địa.

7.5.2 Xác định những đoạn cần triển tuyến như qua đèo, những đoạn dốc lớn v.v…

7.5.3 Dự kiến các đoạn đường cần cải tạo về bình đồ và hình cắt dọc (nếu là dự án cải tạo, nâng cấp đường hiện hữu).

7.5.4 Chỉnh sửa lại vị trí giao cắt với các đường ngang.

7.5.5 Đánh số km trên từng phương án.

7.5.6 Nhận xét, đánh giá mức độ phức tập, ưu nhược điểm của từng phương án. Qua đó loại bớt một số phương án, chỉ giữ lại những phương án có khả năng xét chọn để tiến hành đo đạc lấy tài liệu so sánh.

7.6 Khi vạch tuyến trên từng đoạn ngắn, phải luôn luôn chú ý đến hướng tuyến tổng quát vừa phù hợp với điều kiện địa hình, lại gần sát với đường chim bay.

7.7 Tuyến đường phải phối hợp hài hòa với địa hình: ở đồng bằng không được vạch tuyến quanh co; ở khu vực núi liên tục, phải triển tuyến bám theo địa hình sườn núi trên cơ sở chênh cao tổng thể của địa hình và độ dốc cho phép của tuyến đường.

Cần quan tâm đến các yêu cầu về cảnh quan đối với đường phục vụ du lịch, đường đến khu nghỉ mát, đường đến công trình văn hóa và di tích lịch sử.

7.8 Khi vạch tuyến, nên tránh đi qua những vị trí bất lợi về thổ nhưỡng, thủy văn địa chất (như đầm lầy, khe xói, sụt lở, đá lăn, cac-xtơ…).

Trường hợp phải đi qua đầm lầy cần thị sát kỹ tại chỗ, đo chiều sâu lầy và chọn vị trí đi qua thích hợp nhất. Đồng thời cần nghiên cứu thêm các phương án tránh lầy.

Nên tránh những khe xói đang phát triển trên sườn dốc không ổn định. Trường hợp phải đi qua, nên chọn vị trí tuyến ở đỉnh khe xói. Đối với đường cấp thấp có thể cho tuyến đi qua ở phía dưới, đồng thời có những giải pháp kỹ thuật cần thiết.

7.9 Không nên cho tuyến qua vùng đất quý, không được để những vùng đất quý bị ngập do ảnh hưởng nước dềnh trước công trình trên tuyến.

7.10 Vị trí hợp lý nhất của đường qua các thành phố, khu công nghiệp và đầu mối giao thông, tùy trường hợp cụ thể được xác định trên cơ sở so sánh kinh tế – kỹ thuật các phương án và tham khảo ý kiến chính quyền địa phương. Khi chọn tuyến cần chú ý đến quy mô và đặc tính của giao thông trên đường, lượng xe khu vực hay xe quá cảnh chiếm ưu thế, số dân và ý nghĩa về chính trị kinh tế, văn hóa, xã hội của đường.

7.11 Khi đường qua vùng đồi nên dùng những đường cong bán kính lớn, uốn theo địa hình tự nhiên.

Chú ý bỏ qua những uốn lượn nhỏ và tránh tuyến bị gẫy khúc về bình đồ và hình cắt dọc.

7.12 Qua vùng địa hình đồi nhấp nhô nối tiếp nhau, tốt nhất nên chọn tuyến là những đường cong nối tiếp hài hòa với nhau, không nên có những đoạn thẳng chêm giữa những đường cong cùng chiều, bán kính của hai đường cong tiếp giáp nhau không được chênh nhau quá quy định của thiết kế.

7.13 Khi tuyến đi theo đường phân thủy, điều cần chú ý trước tiên là quan sát hướng của đường phân thủy chính và tìm cách nắn thẳng tuyến trên từng đoạn, chọn những sườn ổn định và thuận tiện cho việc đặt tuyến, tránh những mỏm nhô cao và tìm những đèo để vượt.

7.14 Khi tuyến đi trên sườn núi, mà độ dốc và mức độ ổn định của sườn núi có ảnh hưởng đến vị trí đặt tuyến thì cần nghiên cứu tổng hợp các điều kiện địa hình, địa chất và thủy văn – địa chất đặc trưng cho sườn núi; nếu tồn tại những đoạn sườn dốc bất lợi về địa chất và địa chất – thủy văn như sụt lở, trượt, nước ngầm v.v… cần cho tuyến đi tránh hoặc cắt qua ở phía trên.

7.15 Khi tuyến đi vào thung lũng các sông, suối nên:

7.15.1 Chọn một trong hai bờ thuận với hướng chung của tuyến, có sườn thoải, ổn định, khối lượng đào đắp đất, đá ít.

7.15.2 Cho tuyến đi trên mực nước lũ điều tra.

7.15.3 Chọn vị trí thuận lợi khi giao cắt các nhánh sông suối: nếu là thung lũng hẹp tuyến có thể đi theo một bên hoặc cả hai bên với một hoặc nhiều lần cắt khe suối. Lý do cắt qua nhiều lần một dòng suối thường là khi gặp sườn dốc nặng, vách đá cao, địa chất không ổn định (sụt, trượt, lở…).

Trong trường hợp này phải tập hợp số liệu để so sánh phương án.

7.16 Khi tuyến vượt qua đèo: thông thường chọn vị trí đèo thấp nhất, đồng thời phải dựa vào hướng chung của tuyến và đặc điểm của sườn núi để triển tuyến từ đỉnh đèo xuống hai phía.

Đối với tuyến đường các cấp kỹ thuật 40 trở lên, nếu triển tuyến qua đèo gặp bất lợi như sườn núi không ổn định hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật về bình điện, hình cắt dọc quá hạn chế không thỏa mãn cấp đường thiết kế thì có thể xem xét thêm phương án hầm. Tuyến hầm phải chọn sao cho có chiều dài ngắn nhất và nằm trong vùng ổn định về địa chất và địa chất – thủy văn.

7.17 Vị trí cắt qua sông, suối nên chọn trên những đoạn thẳng có bờ và dòng ổn định, điều kiện địa chất thuận lợi.

Góc giao giữa tuyến cầu với dòng chủ của sông (đặc biệt là sông lớn) nên chọn vuông góc hoặc gần nhử vuông góc, tuy nhiên yêu cầu này không được làm cho tuyến quá gẫy khúc hoặc hạ thấp chỉ tiêu bình đồ tuyến.

Dòng chảy càng nhỏ và cấp kỹ thuật đường càng cao thì tuyến càng ít phụ thuộc vào yêu cầu này. Đối với đường cấp kỹ thuật cao cho phép vượt sông chéo góc hoặc trong đường cong.

Khi chọn vị trí qua sông có thuyền bè qua lại cần chú ý đến yêu cầu thông thuyền theo cấp sông.

Khi qua sông bằng phà có dây cáp dẫn, tuyến phà cần thẳng góc với dòng chảy và nên chọn khúc sông có chiều rộng dòng chính nhỏ nhất.

Trường hợp dùng phà có tàu lai dắt cần chú ý đến khả năng xây dựng bến phà, độ sâu lòng lạch và hướng của bến với dòng chảy, hết sức tránh những khúc sông có bãi bồi.

7.18 Trường hợp làm đường cấp cao đi qua đầm, hồ hoặc vịnh, cần nghiên cứu phương án cắt thẳng bằng cách làm cầu hay kết hợp giữa cầu và nền đắp nhằm rút ngắn chiều dài tuyến.

7.19 Khi cắt qua đường sắt hay đường ôtô cần chọn vị trí thích hợp tùy theo loại giao cắt (giao cùng mức hay mức khác). Lựa chọn loại giao cắt (giao cùng mức đơn giản có hoặc không có điều khiển giao thông, hoặc giao khác mức) cần chú ý đến tương lai phát triển của đường sắt hay đường ôtô tạo nên nút giao. Khi xây dựng nút giao bằng cần chú ý đảm bảo tầm nhìn theo cả hướng dọc và hướng ngang; đồng thời phải có văn bản thỏa thuận của ngành đường sắt.

Trường hợp giao khác mức, nên chọn nơi nền đường bộ là nền đào hoặc nền đắp. Vị trí cắt qua đường sắt phải chọn ngoài phạm vi nhà ga (cả hiện tại và theo quy hoạch). Góc giao nên vuông góc hoặc gần vuông góc.

7.20 Nhiệm vụ cơ bản của việc vạch tuyến là bố trí tim đường trong không gian một cách hợp lý nhất, nghĩa là đảm bảo mối quan hệ chặt chẽ, sự phối hợp hài hòa giữa bình đồ, hình cắt dọc, hình cắt ngang của tuyến và giữa tuyến với cảnh quan hai bên.

7.21 Trên cơ cở nghiên cứu các tài liệu ở trong phòng đặc biệt là hướng tuyến vạch trên bản đồ, xác định mức độ khó khăn phức tạp của công việc sẽ tiến hành ngoài thực địa và lập kế hoạch thực hiện.

B. THỊ SÁT VÀ ĐO ĐẠC TUYẾN NGOÀI THỰC ĐỊA

B.1 Thị sát

7.22 Nhiệm vụ của thị sát là đối chiếu bản đồ với thực địa, xác định lại các phương án tuyến đã được nghiên cứu trên bản đồ là có đi được hay không, bổ sung thêm các phương án cục bộ phát hiện trong quá trình đi thực địa, sơ bộ lựa chọn phương án hợp lý, phát hiện các công trình có liên quan, thu thập ý kiến của địa phương góp phần lựa chọn phương án tuyệt đối.

7.23 Thị sát được tiến hành trên tất cả các phương án tuyến được đề xuất trong DAKT: khi thị sát phải:

7.23.1 Tìm hiểu tình hình dân cư hai bên tuyến (các khu dân cư, đô thị lớn, các khu công nghiệp), các quy hoạch xây dựng của địa phương v.v…

7.23.2 Tìm hiểu nguyên vật liệu tại chỗ, các cơ sở sản xuất nguyên vật liệu địa phương, tình hình vận chuyển đến tuyến bằng đường bộ, đường sắt, đường thủy.

7.23.3 Lập các văn bản cần thiết với các cơ quan có công trình liên quan đến tuyến, ý kiến của địa phương về hướng tuyến và các yêu cầu về tuyến.

7.24 Nếu tuyến phải thị sát là đường hiện hữu thì công tác và thị sát ngoài thực địa vẫn tiến hành theo các nội dung như đã nói ở các điều trên.

B2. Đo đạc

7.25 Nhiệm vụ đo đạc ngoài thực địa là lập bình đồ địa hình khu vực dự định đặt tuyến và thu thập các tài liệu để so sánh chọn phương án tuyến. Các phương án được đo đạc ở bước này là các phương án đã được chọn lọc qua quá trình nghiên cứu trong phòng, thị sát trên thực địa và đã có ý kiến tham gia của địa phương và các cơ quan hữu quan. Ngoài các phương án chính còn phải đo đạc các phương án cục bộ trong các phương án đó.

7.26 Bình đồ địa hình được lập dựa theo đường sườn tim tuyến của phương án đã chọn vạch trên bản đồ. Các cọc đường sườn phải bám sát hướng chung của tuyến thiết kế để việc kẻ tuyến và phóng tuyến ngoài thực địa được chính xác và thuận lợi.

Tỷ lệ bình đồ quy định như sau:

  • địa hình núi khó vẽ theo tỷ lệ 1:2000;
  • địa hình núi bình thường và đồi bát úp vẽ theo tỷ lệ 1:5000;
  • địa hình đồng bằng và đồi thoải vẽ theo tỷ lệ 1:10000.

7.27 Dụng cụ dùng đo đạc (để lập bình đồ) có thể dùng loại đơn giản hoặc tinh tế tùy thuộc điều kiện địa hình và cấp kỹ thuật thiết kế, mức độ chính xác phụ thuộc các dụng cụ đó. Riêng độ cao các cọc đường sườn bắt buộc phải dùng máy tinh tế (nhằm kiểm tra lại độ dốc).

7.28 Tuyến đề xuất phải đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật quy định của cấp kỹ thuật, thỏa mãn các yêu cầu về địa chất, thủy văn và công trình; phải phù hợp với địa hình khu vực tuyến đi qua, với công trình đã xây dựng với quy hoạch xây dựng và thuận tiện cho việc nâng cấp đường sau này.

7.29 Để lập bình đồ cao độ của tuyến cần tiến hành các công việc sau: Định đỉnh, đo góc, rải cọc chi tiết, đo dài, đo cao, đo cắt ngang.

7.29.1 Định đỉnh: các đỉnh của tuyến được xác định trên cơ sở bình đồ đường sườn đo đã kẻ tuyến. Trong quá trình phóng tuyến để định đỉnh cần chú ý xác định vị trí hợp lý nhất của tuyến và thỏa mãn các yêu cầu đã nêu trên.

7.29.2 Rải cọc chi tiết: yêu cầu đối với rải cọc chi tiết là: phản ánh khái quát địa hình dọc tuyến và hai bên tuyến. Trong bước này cọc chi tiết là cọc tạm để lập bình đồ mà không cần bảo vệ lâu dài.

7.29.3 Đo góc, đo cao dùng các thiết bị đo đạc tinh tế, máy kinh vĩ THEO 020, máy thủy bình Ni 025 (hoặc máy có độ chính xác tương đương). Yêu cầu đo đạc phụ thuộc vào cấp đường và thực hiện theo các Điều 7.30; 7.31.

7.29.4 Đo dài bằng thước thép hoặc thước sợi amiăng.
Kết hợp đo tổng quát và đo chi tiết một lần để xác định cọc Km, cọc Hm và khoảng cách giữa các cọc chi tiết.

7.29.5 Đo hình cắt ngang tuyến ở tất cả các cọc chi tiết và cọc đỉnh, có thể đo bằng thước chữ A hoặc bằng máy kinh vĩ. Hướng đo phải vuông góc với tim tuyến ở cọc đỉnh đo theo đường phân giác của góc đỉnh.

7.29.6 Để tạo điều kiện cho việc đo đạc trước mắt và tìm tuyến sau này cần:

(1) Phát tuyến rộng tối thiểu 1m và cuốc lối đi rộng 0,50m để đánh dấu tuyến.

(2) Chôn các cọc đỉnh và cọc đấu đỉnh bằng cọc vĩnh cửu.

(3) Vẽ sơ họa vị trí đặt mốc cao độ theo mẫu hồ sơ thiết kế.

7.30 Đối với đường các cấp kỹ thuật 20-40-60 (và là cấp quản lý IV – V), công việc đo đạc được thực hiện như sau:

7.30.1 Đo góc: các góc đỉnh đo bằng máy kinh vĩ THEO 020 (hoặc máy có độ chính xác tương đương), mỗi góc đo một lần đo (thuận và đảo kính) sai số giữa 2 nửa lần đo không quá 1′. Chú ý sơ họa hướng đo để tránh nhầm lẫn.

7.30.2 Đo cao bằng máy thủy bình Ni 025 (hoặc máy có độ chính xác tương đương) theo quy định:

– Đo cao tổng quát phải đo 2 lần, một lần đi, một lần về riêng biệt để xác định cao độ mốc, sai số không được vượt quá sai số cho phép:

fh = ± 30 √L

fh = sai số giữa 2 lượt đo tính bằng mm.

L = khoảng cách giữa 2 mốc tính bằng km.

Cao độ mốc lấy theo hệ cao độ quốc gia, cứ 40 – 50 km phải khớp nối vào một điểm độ cao nhà nước từ hạng III trở lên.

– Đo cao các cọc chi tiết chỉ cần đo một lượt và khép vào mốc với sai số không vượt quá sai số cho phép trong quy định như sau:

fh = ± 50 √L

(ý nghĩa các ký hiệu như trên)

Mốc độ cao của bước NCKT được bảo vệ và lưu giữ cho các bước khảo sát tiếp theo sử dụng, khoảng cách giữa 2 mốc có thể từ 2km đến 4km để bước tiếp theo khi cần đặt mốc bổ sung được thuận lợi.

7.30.3 Các tuyến dài từ 50km trở lên cần xây dựng lưới khống chế mặt bằng (tọa độ) hạng IV với khoảng cách các mốc tọa độ tối đa là 6km, tối thiểu là 2km. Tuyến khảo sát phải nối và điều chỉnh vị trí tuyến theo lưới để có thể gắn tuyến lên các bản đồ giao thông và địa hình hiện hành.

7.31 Đối với đường làm mới có cấp kỹ thuật 60 – 80 và đồng thời thuộc cấp quản lý I – II – III; cũng như các cấp của đường cao tốc theo TCVN 5729 – 1997. Đối với đường hiện hữu do Cấp quyết định đầu tư quyết định có hoặc không khảo sát theo tọa độ.

Đường các cấp này chủ yếu là các trục lộ quan trọng của quốc gia, công trình đường có liên quan đến các quy hoạch xây dựng cũng như các công trình dân dụng hiện hữu của nhiều ngành khác như thủy điện, thủy lợi v.v… do vậy bình đồ cao độ tuyến đường phải gắn vào hệ tọa độ X, Y và độ cao quốc gia.

Để đạt được yêu cầu này cần xây dựng hệ thống tưới khống chế mặt bằng trên toàn tuyến gồm:

– Lưới khống chế mặt bằng hạng IV;

– Lưới đường chuyền cấp 2;

– Lưới độ cao hạng IV;

– Lưới độ cao cấp kỹ thuật.

7.32 Lưới khống chế mặt bằng hạng IV được thực hiện bằng công nghệ GPS hoặc công nghệ đo đạc thông thường với các chỉ tiêu độ chính xác trong hệ quy chiếu Gauss quy định trong Quy phạm tạm thời của Tổng cục Địa chính ban hành năm 1996 (xem phần Phụ lục 6.1).

7.33 Lưới đường chuyền cấp 2 (ĐC2) với các chỉ tiêu kỹ thuật ghi trong Phụ lục 6.3 được đo đạc bằng máy toàn đạc điện tử (Total station) và gương phản chiếu có chân cố định.

a) Các máy toàn đạc điện tử có độ chính xác như sau được sử dụng để thiết lập lưới đường chuyền cấp 2:

– độ chính xác đo góc: ± 5″.

– độ chính xác đo dài: ± (5mm + 3ppm x D)

b) Các thông số cơ bản của hệ lưới ĐC2 được quy định như sau:

– chiều dài cạnh của lưới không nhỏ hơn 80m và không lớn hơn 350m. Tốt nhất là từ 150m đến 250m.

– độ chính xác đo góc: m ≤ ± 10″.

– độ chính xác đo cạnh: ms/s ≤ ± 1:5000.

– sai số khép tương đối đường chuyền: √(fx2 + fy2 ): [5] ≤1:5000.

• fx: sai số khép gia số tọa độ theo trục x.

• fy: sai số khép gia cố tọa độ theo trục y.

• S: chiều dài giữa 2 điểm, GPS hạng IV.

– sai số ghép góc: ≤ 20″ √n  (n là số góc đo)

– sai số vị trí điểm: ≤ 50mm.

7.34 Lưới khống chế độ cao hạng IV được xây dựng theo tiêu chuẩn cấp nhà nước.
Các mốc cao độ này hoặc xây dựng độc lập hoặc sử dụng chung với các mốc của lưới khống chế mặt bằng hạng IV ở Điều 7-32. Các mốc độ cao hạng IV được tiến hành do theo phương pháp đo cao hình học.

Sai số khép cao độ phải thỏa mãn yêu cầu: fh ≤ ± 20 √L (mm)
(L là chiều dài đường đo tính bằng km).

7.35 Lưới độ cao cấp kỹ thuật sử dụng hệ mốc ĐC2 và đo theo phương pháp đo cao hình học.

Sai số khép cao độ phải thỏa mãn yêu cầu:

* Đối với đồng bằng: fh ≤ ± 30√L (mm)

* Đối với miền núi: fh ≤ ± 50√L (mm)
(L là chiều dài đường đo tính bằng km).

Trong trường hợp địa hình quá dốc (1km phải đặt > 25 trạm máy) thì:

sai số khép cao độ cũng không được vượt quá fhcp ≤ ± 10 √n
(trong đó n là số trạm máy trong đường đo).

C. KHẢO SÁT CÔNG TRÌNH

7.36 Nhiệm vụ của khảo sát công trình là chọn các giải pháp thiết kế cho công trình trên hướng tuyến chọn, điều tra các công trình khác (dân dụng, quân sự…) có liên quan đến tuyến và thu nhập của các số liệu cho thiết kế lập BCNCKT.

7.37 Những công việc cần làm trong quá trình khảo sát công trình:

7.37.1 Thu thập những số liệu cần thiết cho việc lựa chọn loại công trình và lập hồ sơ công trình (cầu, cống đặc biệt, tường chắn, hầm…).

7.38 Trong việc điều tra công trình có liên quan đến tuyến cần xử lý.

7.38.1 Thống kê nhà cửa, công trình nổi và ngầm trong phạm vi từ tim tuyến ra mỗi bên từ 20m đến 50m (tùy theo cấp tốc độ thiết kế). Kết quả điều tra được tập hợp theo từng huyện như Phụ lục 7.

7.38.2 Các công trình dân dụng lớn như trường học, bệnh viện, nhà bưu điện, nhà ga, cửa hàng ăn… tuy nằm ngoài phạm vi quy định của 7.38.1 nhưng trong phạm vi lập bình đồ tuyến đều cần điều tra và thể hiện trên các tài liệu này.

7.39 Cùng với việc khảo sát để thu thập các tài liệu, số liệu công trình cần thu thập các số liệu cần thiết khác cho việc lập BCNCKT như:

7.39.1 Các số liệu về khả năng cung cấp VLXD (tại chỗ cũng như phải vận chuyển từ nơi khác đến).

7.39.2 Các số liệu về mỏ VLXD, ước tính trữ lượng, điều kiện khai thác, phương thức và cự ly vận chuyển. Nếu là mỏ đang khai thác cần thu thập các tài liệu liên quan đến chất lượng VLXD, nếu là mỏ chưa khai thác cần lấy mẫu để thực hiện yêu cầu này.

7.39.3 Các số liệu phục vụ cho việc lập tổng quát đầu tư.

7.39.4 Các số liệu phục vụ cho việc lập thiết kế tổ chức thi công.

7.39.5 Các ý kiến của chính quyền địa phương và các ngành có liên quan đến tuyến về hướng tuyến, về các đoạn qua vùng dân cư…

D. TÀI LIỆU PHẢI CUNG CẤP

Kết thúc công tác, đơn vị khảo sát phải cung cấp các tài liệu sau đây.

(1) Thuyết minh khảo sát tổng hợp về từng phương án với các nội dung về: tuyến (bình diện, dốc dọc, dốc ngang…), địa chất công trình, địa chất thủy văn, thủy văn công trình và thủy văn dọc tuyến, khả năng cung cấp nguyên vật liệu, điều kiện xây dựng, ưu nhược điểm trong phục vụ, khai thác…

(2) Các tài liệu về khảo sát đo đạc tuyến, công trình theo các phương án tuyến.

(3) Biên bản nghiệm thu tài liệu.

(4) Các biên bản làm việc với địa phương và cơ quan hữu quan.

(5) Bình đồ cao độ các phương án tuyến tỷ lệ 1:2.000 – 1:10.000 (như quy định của Điều 7.26).

(6) Hình cắt dọc các phương án tuyến tỷ lệ 1:2.000 – 1:10.000 (phù hợp tỷ lệ bình đồ).

(7) Hình cắt ngang các phương án tuyến tỷ lệ 1:200 đến 1:500 (địa hình đồng bằng tỷ lệ đến 1:500, các địa hình khác tỷ lệ 1:200).

(9) Bảng thống kê khối lượng giải phóng mặt bằng.

Giới thiệu về Minh Khôi

Chuyên trang chia sẻ các kiến thức liên quan đến Hoạt động xây dựng 👉 Đấu thầu 👍 Autocad từ cơ bản đến nâng cao.

Có thể bạn quan tâm

mau-phuong-an-khao-sat

Mẫu phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng công trình

Mẫu Phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng. Phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng theo quy định tại điều 13 Nghị định 46/2015/NĐ-CP

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.